CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, BAN THƯỜNG VỤ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG HỌP QUYẾT ĐỊNH MỞ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
Chiến thắng Điện Biên Phủ “lững lẫy năm châu chấn động địa cầu” là một trong những đỉnh cao chói lọi, được ghi vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, buộc chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ- nevơ (tháng 7/1954) công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Đông Dương. Kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ kéo dài 9 năm (1945-1954). Đồng thời chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp kéo dài hàng thế kỷ, mở ra bước phát triển cho cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia.
Bảo tàng Binh chủng Thông tin liên lạc trân trọng giới thiệu với Thủ trưởng và các đồng chí nội dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp quyết định chủ trương, kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 và mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Sau cách mạng tháng 8/1945, thực dân Pháp dã tâm dùng vũ lực hòng đặt lại ách thống trị trên đất nước ta một lần nữa. Thực hiện lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Hồ Chủ Tịch và đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và ý chí “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” toàn thể nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ với niềm tin tất thắng. Bằng tinh thần “Cảm tử để tổ quốc quyết sinh” quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp, vùng giải phóng không ngừng được mở rộng, chính quyền nhân dân được củng cố, ta càng đánh càng mạnh, còn thực dân Pháp ngày càng lâm vào thế bị động.
Từ năm 1953, tình hình chiến trường Đông Dương có nhiều thay đổi bất lợi cho thực dân Pháp. Lợi dụng lúc thực dân Pháp gặp khó khăn, Mỹ đã tìm cách nhảy vào Việt Nam, tăng cường viện trợ. Tháng 7/1953, “Kế hoạch NaVa” được Hội đồng Quốc phòng Pháp thông qua hòng “Tìm cách thoát ra khỏi cuộc chiến tranh ở Đông Dương trong danh dự” trong vòng 18 tháng. Kế hoạch là tập trung lực lượng cơ động chiến lược ở Đồng bằng Bắc Bộ, lúc cao điểm lên đến 44 tiểu đoàn, nhằm giành lại sự chủ động chiến lược xoay chuyển tình thế trên chiến trường Đông Dương, thực hiện đòn tiến công mang tính quyết định khi có điều kiện. Được sự hỗ trợ của đế quốc Mỹ, thực dân Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.
Nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp, đầu tháng 12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến “Đánh nhanh, thắng nhanh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đây là một chiến dịch lịch sử có ý nghĩa quân sự, chính trị, ngoại giao rất quan trọng. Người căn dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp- Bí thư Đảng ủy, kiêm Tư lệnh mặt trận: “Trận này chắc thắng thì đánh, không chắc thắng không đánh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp quyết định chủ trương, kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 và mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Với tầm nhìn chiến lược Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận thấy phương án “Đánh nhanh, thắng nhanh” mang nhiều yếu tố chủ quan, không đánh giá đúng tình hình thực lực của cả hai bên, không thể đảm bảo chắc thắng. Cuối cùng Đại tướng quyết định dừng trận đánh, kéo pháo ra, chuyển phương án từ “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc”.
Ngày 13/3/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ chính thức mở màn, quân ta tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; diệt và bắt sống hơn 2000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ một trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh. Tư lệnh Pháo binh Pháp (Piroth) ở Điện Biên Phủ đã dùng lựu đạn tự sát vì bất lực trước pháo binh của ta.
Ngày 30/3 đến 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần chiến đấu.
Ngày 1/5 đến 7/5/1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và mở đợt tổng công kích, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Vào hồi 17h30p, ngày 7/5/1954 ta chiếm sở chỉ huy của địch, tướng De Castries cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng. Lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm sở chỉ huy của địch. Ngay trong đêm đó, quân ta tiếp tục tấn công, phân khu Nam đánh địch tháo chạy về Thượng Lào; đến 24h cùng ngày, toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.
Trải qua 56 ngày đêm chiến đấu kiên cường, dũng cảm, sáng tạo, ngày 7/5/1954, quân và dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được xem là “Bất khả chiếm bại” đã bị quân và dân ta đánh bại. Thắng lợi này đã trực tiếp đưa đến việc ký kết hiệp định Giơ- nevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương, tạo cơ sở và điều kiện để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 1975.
Chiến thắng Điện Biên Phủ ”là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử”; là thắng lợi to lớn của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một lòng, một dạ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân./.
HỒNG HOA- MINH TUỆ

